MỘT TÔN GIÁO ĐẦY T̀NH THƯƠNG
Dân chúng thành Athen của Hy-Lạp thời xưa thờ đủ các Thần. Mỗi vị Thần đều có tên và h́nh dáng rơ rệt. Mỗi vị Thần có một tiểu sử riêng được truyền tụng trong nhân gian với đầy đủ chi tiết. Nhưng người dân thành Athen cũng chưa an tâm. Họ vẫn cảm thấy thiếu một người nào đó nên họ xây một đền thờ để thờ một vị Thần được mệnh danh là "Thần không biết".
Ngày hôm nay cũng vậy, có những giáo chủ tôn giáo cho phép tín đồ thờ đủ các Thần Thánh của các tôn giáo khác, ước mong lập được một tôn giáo đại đồng cho nhân loại. Ai muốn cầu Thần nào cũng được. Không được Thần này cứu th́ Thần kia cũng cứu. Họ tin thờ như vậy cho được bảo đảm, chắc ăn, không bỏ sót Thần nào th́ sẽ không bị ai giận dỗi trừng phạt.
Điều ǵ đă khiến cho tâm hồn con người bất an đến độ không đủ tin vào Thần Thánh của ḿnh thờ phượng? Động lực nào đă khiến con người không được thỏa ḷng với hàng ngàn năm tiến bộ về khoa-học, xă-hội, văn-hóa, tư-tưởng, mà vẫn tiếp tục đi t́m một Thượng Đế để thờ phượng?
Nếu Đạo chỉ là một thứ thuốc phiện ru ngủ những người ngu dốt, là cái phao của kẻ yếu đuối, tâm trí không vững vàng, th́ tại sao Tổng Thống và Tối cao Pháp viện của một quốc gia hùng cường nhất trên thế giới như Hoa-Kỳ phải đặt tay lên Thánh-Kinh để tuyên thệ trong ngày lễ nhậm chức?
Nếu Đạo nào cũng chỉ dạy cách ăn ở hiền lành, tu nhân tích đức, th́ cha mẹ, thầy cô, sách vở cũng làm được việc này rồi, cần ǵ con người phải mất công, mất th́ giờ đi t́m Thượng Đế?
Nếu Thần nào cũng có quyền phép tối cao như nhau th́ tại sao lại có những quốc gia dốc ḷng trung tín với Thần Thánh của ḿnh mà lại không được phước? Trái lại phải chịu họa diệt vong, dịch lệ, đói kém, giết chóc man rợ, đọa đầy trong những cuộc chém giết triền miên, những hận thù dai dẳng từng thế kỷ?
Nếu Giáo Chủ nào cũng là Đấng linh thiêng, là trí tuệ của nhân loại, th́ tại sao lại có những tín đồ mù mịt tối tăm trong hành động và tư tưởng, sợ hăi, dă man, mê tín dị đoan, đi ngược lại với văn minh của nhân loại, để cho tất cả mọi người phải chê cười và có thành kiến với tôn giáo của ḿnh?
Đường đời muôn vạn nẻo. Đường t́m Đạo c̣n rối rắm hơn. Con người băn khoăn, không biết tin nơi ai , t́m ở đâu một vị Thượng Đế cho ḿnh thờ phượng? Một Thượng Đế đầy quyền năng cứu rỗi. Một Thượng Đế toàn bích, toàn năng. Một Thượng Đế chân thật và toàn thiện, toàn mỹ.
Cơ-Đốc giáo bắt nguồn từ một thời điểm xa xôi, theo Kinh Cựu Ước, th́ Đức Chúa Trời hiện diện từ thuở vô cùng, và vũ trụ do tay Ngài tạo dựng. Chính Ngài đă tạo nên con người từ bụi đất, hà hơi vào và khiến con người trở thành một sinh vật thượng đẳng. Khi con người chết, Chúa phán bảo xác thịt phải trở về cát bụi và hơi thở trở về với Ngài. Không có linh hồn nào tồn tại sau cái chết, cũng không có kiếp trước kiếp sau. Con người chỉ có một đời để sống và chỉ một đời để t́m sự cứu rỗi.
Vũ trụ có luật chi phối vũ trụ. Thế gian có luật của thế gian, và con người cũng phải sống theo luật pháp của Đấng đă dựng nên trật tự và công lư cho muôn sự.
Sau khi phạm tội và bị đuổi ra khỏi địa đàng, con người lang thang khổ nhọc trên khắp cùng trái đất, sinh sôi nẩy nở, truyền lại giống người nhưng cũng truyền lại mầm mống tội lỗi, là nguyên do của tất cả những tai họa, cô đơn, đau khổ và cả sự chết.
Con người sống dưới áp lực của sinh, lăo, bệnh, tử. Không cứu được ḿnh khỏi bệnh hoạn. Không cứu được ḿnh hỏi tai họa. Không biết được ngày mai những điều ǵ sẽ xảy đến cho đời ḿnh. Không thay đổi được những biến chuyển đen tối đang chờ chực chung quanh. Con người không có đủ tài năng để có thể tự tin vào ḿnh được.
Con người lại càng không thể kêu cầu sự giải thoát từ một cá nhân khác, cũng là người như ḿnh, cũng sống bấp bênh, mơ hồ, yếu đuối như ḿnh. Con người vùng vẫy như cá mắc cạn ở vũng khô, không tự ḿnh thoát ra được, nên con người than khóc với Đức Chúa Trời là Đấng đă tạo dựng ḿnh.
Con người không bao giờ biết được Đức Chúa Trời yêu thương ḿnh đến bực nào cho đến khi Ngài gởi ngôi hai là Đức Chúa Con đến thế gian. Không có lời lẽ nào, không có bút mực nào giải thích được tấm ḷng yêu thương của Đức Chúa Giê-su đối với con người.
Giáo sĩ John Dybdahl trong quyển "A two-way street" có kể lại lần viếng thăm một tu viện xa xôi ở Tây Tạng. Vị ḥa thượng trụ tŕ dẫn ông đến một hành lang đầy dẫy những bức họa dọc theo hai bên tường, vẽ về các tôn giáo lớn trên thế giới, và hỏi ư kiến Dybdahl về một bức họa có thể nói lên được tinh thần của Cơ-Đốc giáo.
Dybdahl suy nghĩ hồi lâu rồi đề nghị nên vẽ về bữa tiệc cuối cùng, cảnh Chúa Giê-su đang rửa chân cho các môn đồ. Vị tu sĩ hết sức kinh ngạc, gương mặt già nua nhăn nhúm ra vẻ không tin. Ở nước này, bàn chân là biểu hiệu của sự nhơ nhớp, hạ tiện. "Giáo chủ của ông thật sự có rửa chân cho mấy người đánh cá sao?"
"Đúng vậy."
Bầu không khí bỗng trở nên nặng nề, ngột ngạt. Vị ḥa thượng th́ kinh ngạc sững sờ, c̣n Dybdahl th́ cũng tê liệt bởi cái cảm giác vụt đến trong trí về tất cả ư nghĩa của Lễ Rửa Chân. Cuối cùng vị tu sĩ đứng lên trầm lặng nói, "Bây giờ th́ tôi đă biết được cái tinh túy của tôn giáo ông."
Chỉ có t́nh yêu mới giải thích được tất cả những sự việc mà Đức Chúa Giê-su đă làm cho nhân loại. Chỉ có t́nh yêu mới khiến Chúa rời ngôi trời cao trọng để làm kẻ áo vải, chân trần, lang thang không nhà không cửa trên đất, thậm chí c̣n quỳ xuống để rửa những bàn chân dơ bẩn của người đánh cá, và chịu đóng đinh trên thánh giá để chết thay cho người có tội.
Hăy tưởng tượng đến một phạm nhân đang bị giam cầm, khổ nhục trong ngục tối để chờ ngày ra pháp trường. Người có tội kêu cầu với Thái tử con Vua, "Lạy Ngài, tôi biết tôi là kẻ có tội. Nhưng xin ngài hăy thương xót đến con dân bé mọn của Ngài. Tôi biết Ngài có quyền và ḷng Ngài nhân từ, xin Ngài cứu mạng." Vị Thái tử đau xót nh́n phạm nhân trong ngục thất, Ngài lau nước mắt cho kẻ ăn năn và phán bảo, "Cứ yên ḷng, người sẽ được cứu".
Đêm ấy Ngài suy nghĩ măi, pháp luật của quốc gia là biểu hiệu của trật tự và công lư, không thể vi phạm được. Tất cả mọi người phải tuân theo. Cha của Ngài không thể là Vua hai lời, là Chúa của sự hỗn độn và bất công thiên vị.
Sáng hôm sau khi tiếng trống hành quyết gióng lên, một xác chết ngă gục. Nhưng người chết không phải là phạm nhân mà là vị Thái tử vô tội. Hoàng Đế tuyên phán, "Ta chỉ có một con, nay phải chịu chết thế để xin tha mạng cho kẻ tử tội. Tội lỗi đă bị xử phạt. Từ này phạm nhân kia được tự do. Máu của con ta đă đổ để cứu vớt người biết ăn năn. Từ nay hễ ai xưng nhận máu ấy, th́ ta v́ ḷng thương mến con ta sẽ tha cho họ."
Con người có thể bỏ công bỏ tiền ra để giúp đỡ kẻ khác. Nhưng xưa nay chưa có ai, đến độ phải bán nhà, làm lụng không công suốt đời để giúp đỡ bạn ḿnh, nói ǵ đến chuyện chết thay cho họ được sống? Xưa nay anh hùng liệt sĩ hy sinh mạng sống ḿnh cho sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Nhưng có ai dám chết để cứu kẻ không xứng đáng, một kẻ tội đồ?
Xưa nay những bậc quyền quư ngồi phía trên cho thiên hạ trọng vọng, dâng hiến, tung hô. Có vị giáo chủ nào chịu phục vụ và chết thế cho một bần dân?
Đức Chúa Giê-su cứu con người vô điều kiện. Chỉ một tiếng ăn năn "Lạy Chúa con biết tội của ḿnh, xin Ngài hăy thương xót!" là sự cứu rỗi sẽ được ban cho.
Kế hoạch cứu rỗi con người đă có từ thuở khai thiên lập địa, khi con người mới bắt đầu phạm tội, và bị đuổi ra khỏi thiên đàng. V́ Đức Chúa Trời vốn đă biết tội lỗi như vũng lầy, khi con cái Ngài đă sa chân vào, th́ càng ngày càng lún sâu, không có phương thế ǵ để ra khỏi. Chỉ có thập tự giá của Chúa Giê-su mới đủ sâu để chạm tới đáy của vực tội lỗi, và chỉ có thập tự giá của Giê-su mới đủ bề rộng như cánh tay Ngài đă giang ra để ôm hết nhân loại từ Đông sang Tây.
Con người chúng ta có hai bản ngă: một đẹp đẽ sáng láng do Chúa ban, một đen tối xấu xa do ảnh hưởng của tội lỗi, ma quỷ. Chúng ta không t́m cách dẹp bỏ toàn bộ bản ngă ḿnh, diệt hết thất t́nh lục dục, để trở nên b́nh tịnh bất động, mà chúng ta chỉ muốn diệt bỏ cái bóng đen trong tâm hồn chúng ta, để cho bản ngă tốt đẹp kia ngày càng thêm sáng láng.
Kinh Tân Ước nhiều lần nói đến Chúa Giê-su đau ḷng cảm động (Ma-thi-ơ 10:36, Giăng 11:33) và đă khóc v́ thương xót dân gian đau khổ (Giăng 11:35). Chúa rơi nước mắt v́ ḷng Ngài tràn đầy xúc động và yêu thương. Ngài khóc cho giấc mộng của chúng ta không thành. Ngài khóc cho sự uất ức của chúng ta trong khi chịu đựng những sự bất công, phản bội.
Ngài muốn gánh hết cho chúng ta những đau khổ. "Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hăy đến cùng ta. Ta sẽ cho các người được yên nghỉ." (Ma-thi-ơ 11:28) "Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành v́ chiên ḿnh phó sự sống ḿnh... Ta c̣n có chiên khác chẳng thuộc về chuồng này; ta cũng phải dẫn nó về nữa, chiên đó sẽ nghe ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi." (Giăng 10:11,16)
T́nh yêu thương không phải là giây nhợ trói buộc con người vào biển khổ. T́nh yêu thương là động lực của sự nhập thế của Giê-su. T́nh yêu thương cũng là món quà Chúa để lại cho con cái Ngài trước khi xuất thế. Nhân loại chỉ cần thực tập yêu thương: Yêu Chúa và Yêu người là có được sự cứu rỗi.
Nhân loại không cần khổ công tu hàng trăm kiếp để được giải thoát, không cần phải gồng gánh cái nghiệp chướng bâng quơ của một kiếp đời nào đó trong quá khứ, hay là sợ hăi cái trầm luân của những kiếp đời nào đó trong tương lai. Đấng Tạo hóa chỉ cho nhân loại có một kiếp để sống. Một kiếp để nhận biết Ngài, để học lấy sự yêu thương, và để được giải thoát.
Ôi cái giá cứu rỗi thật là nhẹ nhàng, và con đường cứu rỗi thật là ngắn ngủi. Chỉ giây phút này thôi, nếu bạn thấy ḷng ḿnh cảm động, xin bạn hăy cúi đầu nhắm mắt cầu nguyện cùng Chúa Giê-su, tin nhận Ngài là Đấng Cứu Rỗi, giao phó linh hồn và cuộc đời bạn trong bàn tay nhân từ và đầy quyền năng của Ngài. Bạn sẽ thấy Chúa Giê-su cận kề bên để nâng đỡ bạn lên, lau nước mắt cho bạn, và nhận bạn làm con cái của Ngài.
Trích dẫn trong đặc san Suối Thiêng: Ấn Bản Chúa Yêu Thương
|