An Binh Hanh Phuc - Phuc Am Doi Doi

Trang Chu - Home

English

Resolution of PHM

History of PHM

JAM'S Interview

Health (English)

God Said No

Bai Giang - Sermons

Truyen Thanh - Radio

Truyen Hinh - TV

Bai Giang Youtube

Thanh Nhac - Music

Thanh Vien - Members

Canh Bao - Warning

Thanh Kinh - Bible

Doc - Read

So Sanh - Comparison

Quan Trong - Importance

Doi Song - Your Life

Thac Mac - Questions

Gie-su La Ai-Who Is Jesus

Dai Hoc - College

Hoc Kinh Thanh 1

* 01 Đời Sống Trống Vắng

* 02 Con Đường Giải Thoát

* 03 Chân Lư Là Ǵ?

* 04 Cách T́m Chân Lư

* 05 Đức Tin & Hành Động

* 06 T́m Đấng Tôn Thờ

* 07 Con Người Thật Sự

* 08 Người Bạn Muôn Đời

* 09 Kẻ Thù Thật Sự

* 10 Đi T́m Năng Quyền

* 11 Thông Giao Với Chúa

* 12 Tâm Hồn Đổi Mới

* 13 Quyền Năng Để Sống

* 14 Ẩm Thực Bổ Dưỡng

* 15 Cách Sống Lành Mạnh

* 16 Đời Sống Vui Thoả

* 17 Con Người Tao Nhă

* 18 Gia Đ́nh Hạnh Phúc

Học Kinh Thánh 2

* 19 Ḷng Trung Trọn Vẹn

* 20 Dấu Hiệu Nên Tránh

* 21 Dấu Ấn B́nh An

* 22 Phương Pháp Yên Nghỉ

* 23 Không Ai Tránh Khỏi

* 24 Sự Lừa Dối Vĩ Đại

* 25 Đạo Nào Cũng Tốt

* 26 Hội Thánh Thật

* 27 Tổ Chức Hội Thánh

* 28 Gầy Dựng Hội Thánh

* 29 Nhân Chứng Trung Tín

* 30 Phân Biệt Thật Giả

* 31 Chướng Ngại Tâm Linh

* 32 Thời Gian Cấp Bách

* 33 Cuộc Hội Ngộ Ly Kỳ

* 34 Quê Hương Thật Sự

* 35 Nghi Lễ Báp Têm

* 36 Tăng Trưởng Tâm Linh

* 37 Giữ Cả Hai Ngày

Đời Sống -Everyday Life

Bí Mật Sống Khoẻ

Sức Khoẻ Của Bạn

Tư Tưởng Suy Gẫm

Sống Khôn - Wise Living

B́nh An Cho Người

Đời Sống Biết Ơn

Quyết Định Năm Mới

Hôn Nhân Bền Vững

Hôn Nhân Theo Ư Chúa

Gia Đ́nh Đầm Ấm

Gia Đ́nh

Thói Quen Hạnh Phúc

Điều Chỉnh Đời Ḿnh

Thần Học - Theology

Đấng Tạo Hóa -The Creator

Một Sự Khởi Đầu-Beginning

Ban Đầu Chúa Dựng Nên

Bảy Ngày Tạo Thế

Chúa T́nh Yêu -Loving God

Sự Cứu Rỗi

Sự Sống Đời Đời

Sự Thờ Phượng Thật

Phúc Âm Đời Đời

Nô Lệ V́ Không Có Lẽ Thật

Miễn Chân Thật Là Đủ?

60 Dữ Kiện Sabat

Ai Dời Ngày Thánh?

Thắc Mắc Về Sabat

Ánh Sáng & Chân Lư

Phục Sinh & Sabát

Chủ Nhật & Kinh Thánh

Thật & Giả

Thắc Mắc Về Ngày Sa-bát

Hội Thánh & Chánh Trị

Vâng Phục Chính Quyền

Hội Thánh - Church US

28 Tín Điều - 28 Beliefs

Sinh Hoạt Hội Thánh

Loma Linda Church

Orange County Church

San Diego Church

Tư Gia - Housechurch VN

Tôn Chỉ-Guiding Principle

Nguyên Tắc Hoạt Động

H́nh Ảnh - Pictures

Nhạc Tư Gia - Music

Cứu Trợ - Humanitarian

Lănh Đạo - Leadership

Bài Thi - Final Test

Tài Liệu - Publications

Thông Tin - News

Megavoice-Máy Năng Lượng

Giới Thiệu - ABout Us

Sứ Mạng -Mission

Mục Tiêu-Goal

Tổ Chức-Organization

Lịch Sử-History

Ủy Thác-Commission

Liên Lạc - Contact

Peace & Happiness - Everlasting Gospel Ministry


(Tất cả bài vở trong website nầy đều được An B́nh Hạnh Phúc giữ bản quyền. 
Mọi trích dẫn phải xin phép trước.

Copyright (C) by Peace & Happiness Ministry
All rights reserved)



MỘT TÔN GIÁO
ĐẦY T̀NH THƯƠNG




Dân chúng thành Athen của Hy-Lạp thời xưa thờ đủ các Thần. Mỗi vị Thần đều có tên và h́nh dáng rơ rệt. Mỗi vị Thần có một tiểu sử riêng được truyền tụng trong nhân gian với đầy đủ chi tiết. Nhưng người dân thành Athen cũng chưa an tâm. Họ vẫn cảm thấy thiếu một người nào đó nên họ xây một đền thờ để thờ một vị Thần được mệnh danh là "Thần không biết".

Ngày hôm nay cũng vậy, có những giáo chủ tôn giáo cho phép tín đồ thờ đủ các Thần Thánh của các tôn giáo khác, ước mong lập được một tôn giáo đại đồng cho nhân loại. Ai muốn cầu Thần nào cũng được. Không được Thần này cứu th́ Thần kia cũng cứu. Họ tin thờ như vậy cho được bảo đảm, chắc ăn, không bỏ sót Thần nào th́ sẽ không bị ai giận dỗi trừng phạt.

Điều ǵ đă khiến cho tâm hồn con người bất an đến độ không đủ tin vào Thần Thánh của ḿnh thờ phượng? Động lực nào đă khiến con người không được thỏa ḷng với hàng ngàn năm tiến bộ về khoa-học, xă-hội, văn-hóa, tư-tưởng, mà vẫn tiếp tục đi t́m một Thượng Đế để thờ phượng?

Nếu Đạo chỉ là một thứ thuốc phiện ru ngủ những người ngu dốt, là cái phao của kẻ yếu đuối, tâm trí không vững vàng, th́ tại sao Tổng Thống và Tối cao Pháp viện của một quốc gia hùng cường nhất trên thế giới như Hoa-Kỳ phải đặt tay lên Thánh-Kinh để tuyên thệ trong ngày lễ nhậm chức?

Nếu Đạo nào cũng chỉ dạy cách ăn ở hiền lành, tu nhân tích đức, th́ cha mẹ, thầy cô, sách vở cũng làm được việc này rồi, cần ǵ con người phải mất công, mất th́ giờ đi t́m Thượng Đế?

Nếu Thần nào cũng có quyền phép tối cao như nhau th́ tại sao lại có những quốc gia dốc ḷng trung tín với Thần Thánh của ḿnh mà lại không được phước? Trái lại phải chịu họa diệt vong, dịch lệ, đói kém, giết chóc man rợ, đọa đầy trong những cuộc chém giết triền miên, những hận thù dai dẳng từng thế kỷ?

Nếu Giáo Chủ nào cũng là Đấng linh thiêng, là trí tuệ của nhân loại, th́ tại sao lại có những tín đồ mù mịt tối tăm trong hành động và tư tưởng, sợ hăi, dă man, mê tín dị đoan, đi ngược lại với văn minh của nhân loại, để cho tất cả mọi người phải chê cười và có thành kiến với tôn giáo của ḿnh?

Đường đời muôn vạn nẻo. Đường t́m Đạo c̣n rối rắm hơn. Con người băn khoăn, không biết tin nơi ai , t́m ở đâu một vị Thượng Đế cho ḿnh thờ phượng? Một Thượng Đế đầy quyền năng cứu rỗi. Một Thượng Đế toàn bích, toàn năng. Một Thượng Đế chân thật và toàn thiện, toàn mỹ.

Cơ-Đốc giáo bắt nguồn từ một thời điểm xa xôi, theo Kinh Cựu Ước, th́ Đức Chúa Trời hiện diện từ thuở vô cùng, và vũ trụ do tay Ngài tạo dựng. Chính Ngài đă tạo nên con người từ bụi đất, hà hơi vào và khiến con người trở thành một sinh vật thượng đẳng. Khi con người chết, Chúa phán bảo xác thịt phải trở về cát bụi và hơi thở trở về với Ngài. Không có linh hồn nào tồn tại sau cái chết, cũng không có kiếp trước kiếp sau. Con người chỉ có một đời để sống và chỉ một đời để t́m sự cứu rỗi.

Vũ trụ có luật chi phối vũ trụ. Thế gian có luật của thế gian, và con người cũng phải sống theo luật pháp của Đấng đă dựng nên trật tự và công lư cho muôn sự.

Sau khi phạm tội và bị đuổi ra khỏi địa đàng, con người lang thang khổ nhọc trên khắp cùng trái đất, sinh sôi nẩy nở, truyền lại giống người nhưng cũng truyền lại mầm mống tội lỗi, là nguyên do của tất cả những tai họa, cô đơn, đau khổ và cả sự chết.

Con người sống dưới áp lực của sinh, lăo, bệnh, tử. Không cứu được ḿnh khỏi bệnh hoạn. Không cứu được ḿnh hỏi tai họa. Không biết được ngày mai những điều ǵ sẽ xảy đến cho đời ḿnh. Không thay đổi được những biến chuyển đen tối đang chờ chực chung quanh. Con người không có đủ tài năng để có thể tự tin vào ḿnh được.

Con người lại càng không thể kêu cầu sự giải thoát từ một cá nhân khác, cũng là người như ḿnh, cũng sống bấp bênh, mơ hồ, yếu đuối như ḿnh. Con người vùng vẫy như cá mắc cạn ở vũng khô, không tự ḿnh thoát ra được, nên con người than khóc với Đức Chúa Trời là Đấng đă tạo dựng ḿnh.

Con người không bao giờ biết được Đức Chúa Trời yêu thương ḿnh đến bực nào cho đến khi Ngài gởi ngôi hai là Đức Chúa Con đến thế gian. Không có lời lẽ nào, không có bút mực nào giải thích được tấm ḷng yêu thương của Đức Chúa Giê-su đối với con người.

Giáo sĩ John Dybdahl trong quyển "A two-way street" có kể lại lần viếng thăm một tu viện xa xôi ở Tây Tạng. Vị ḥa thượng trụ tŕ dẫn ông đến một hành lang đầy dẫy những bức họa dọc theo hai bên tường, vẽ về các tôn giáo lớn trên thế giới, và hỏi ư kiến Dybdahl về một bức họa có thể nói lên được tinh thần của Cơ-Đốc giáo.

Dybdahl suy nghĩ hồi lâu rồi đề nghị nên vẽ về bữa tiệc cuối cùng, cảnh Chúa Giê-su đang rửa chân cho các môn đồ. Vị tu sĩ hết sức kinh ngạc, gương mặt già nua nhăn nhúm ra vẻ không tin. Ở nước này, bàn chân là biểu hiệu của sự nhơ nhớp, hạ tiện. "Giáo chủ của ông thật sự có rửa chân cho mấy người đánh cá sao?"

"Đúng vậy."

Bầu không khí bỗng trở nên nặng nề, ngột ngạt. Vị ḥa thượng th́ kinh ngạc sững sờ, c̣n Dybdahl th́ cũng tê liệt bởi cái cảm giác vụt đến trong trí về tất cả ư nghĩa của Lễ Rửa Chân. Cuối cùng vị tu sĩ đứng lên trầm lặng nói, "Bây giờ th́ tôi đă biết được cái tinh túy của tôn giáo ông."

Chỉ có t́nh yêu mới giải thích được tất cả những sự việc mà Đức Chúa Giê-su đă làm cho nhân loại. Chỉ có t́nh yêu mới khiến Chúa rời ngôi trời cao trọng để làm kẻ áo vải, chân trần, lang thang không nhà không cửa trên đất, thậm chí c̣n quỳ xuống để rửa những bàn chân dơ bẩn của người đánh cá, và chịu đóng đinh trên thánh giá để chết thay cho người có tội.

Hăy tưởng tượng đến một phạm nhân đang bị giam cầm, khổ nhục trong ngục tối để chờ ngày ra pháp trường. Người có tội kêu cầu với Thái tử con Vua, "Lạy Ngài, tôi biết tôi là kẻ có tội. Nhưng xin ngài hăy thương xót đến con dân bé mọn của Ngài. Tôi biết Ngài có quyền và ḷng Ngài nhân từ, xin Ngài cứu mạng." Vị Thái tử đau xót nh́n phạm nhân trong ngục thất, Ngài lau nước mắt cho kẻ ăn năn và phán bảo, "Cứ yên ḷng, người sẽ được cứu".

Đêm ấy Ngài suy nghĩ măi, pháp luật của quốc gia là biểu hiệu của trật tự và công lư, không thể vi phạm được. Tất cả mọi người phải tuân theo. Cha của Ngài không thể là Vua hai lời, là Chúa của sự hỗn độn và bất công thiên vị.

Sáng hôm sau khi tiếng trống hành quyết gióng lên, một xác chết ngă gục. Nhưng người chết không phải là phạm nhân mà là vị Thái tử vô tội. Hoàng Đế tuyên phán, "Ta chỉ có một con, nay phải chịu chết thế để xin tha mạng cho kẻ tử tội. Tội lỗi đă bị xử phạt. Từ này phạm nhân kia được tự do. Máu của con ta đă đổ để cứu vớt người biết ăn năn. Từ nay hễ ai xưng nhận máu ấy, th́ ta v́ ḷng thương mến con ta sẽ tha cho họ."

Con người có thể bỏ công bỏ tiền ra để giúp đỡ kẻ khác. Nhưng xưa nay chưa có ai, đến độ phải bán nhà, làm lụng không công suốt đời để giúp đỡ bạn ḿnh, nói ǵ đến chuyện chết thay cho họ được sống? Xưa nay anh hùng liệt sĩ hy sinh mạng sống ḿnh cho sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Nhưng có ai dám chết để cứu kẻ không xứng đáng, một kẻ tội đồ?

Xưa nay những bậc quyền quư ngồi phía trên cho thiên hạ trọng vọng, dâng hiến, tung hô. Có vị giáo chủ nào chịu phục vụ và chết thế cho một bần dân?

Đức Chúa Giê-su cứu con người vô điều kiện. Chỉ một tiếng ăn năn "Lạy Chúa con biết tội của ḿnh, xin Ngài hăy thương xót!" là sự cứu rỗi sẽ được ban cho.

Kế hoạch cứu rỗi con người đă có từ thuở khai thiên lập địa, khi con người mới bắt đầu phạm tội, và bị đuổi ra khỏi thiên đàng. V́ Đức Chúa Trời vốn đă biết tội lỗi như vũng lầy, khi con cái Ngài đă sa chân vào, th́ càng ngày càng lún sâu, không có phương thế ǵ để ra khỏi. Chỉ có thập tự giá của Chúa Giê-su mới đủ sâu để chạm tới đáy của vực tội lỗi, và chỉ có thập tự giá của Giê-su mới đủ bề rộng như cánh tay Ngài đă giang ra để ôm hết nhân loại từ Đông sang Tây.

Con người chúng ta có hai bản ngă: một đẹp đẽ sáng láng do Chúa ban, một đen tối xấu xa do ảnh hưởng của tội lỗi, ma quỷ. Chúng ta không t́m cách dẹp bỏ toàn bộ bản ngă ḿnh, diệt hết thất t́nh lục dục, để trở nên b́nh tịnh bất động, mà chúng ta chỉ muốn diệt bỏ cái bóng đen trong tâm hồn chúng ta, để cho bản ngă tốt đẹp kia ngày càng thêm sáng láng.

Kinh Tân Ước nhiều lần nói đến Chúa Giê-su đau ḷng cảm động (Ma-thi-ơ 10:36, Giăng 11:33) và đă khóc v́ thương xót dân gian đau khổ (Giăng 11:35). Chúa rơi nước mắt v́ ḷng Ngài tràn đầy xúc động và yêu thương. Ngài khóc cho giấc mộng của chúng ta không thành. Ngài khóc cho sự uất ức của chúng ta trong khi chịu đựng những sự bất công, phản bội.

Ngài muốn gánh hết cho chúng ta những đau khổ. "Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hăy đến cùng ta. Ta sẽ cho các người được yên nghỉ." (Ma-thi-ơ 11:28) "Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành v́ chiên ḿnh phó sự sống ḿnh... Ta c̣n có chiên khác chẳng thuộc về chuồng này; ta cũng phải dẫn nó về nữa, chiên đó sẽ nghe ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi." (Giăng 10:11,16)

T́nh yêu thương không phải là giây nhợ trói buộc con người vào biển khổ. T́nh yêu thương là động lực của sự nhập thế của Giê-su. T́nh yêu thương cũng là món quà Chúa để lại cho con cái Ngài trước khi xuất thế. Nhân loại chỉ cần thực tập yêu thương: Yêu Chúa và Yêu người là có được sự cứu rỗi.

Nhân loại không cần khổ công tu hàng trăm kiếp để được giải thoát, không cần phải gồng gánh cái nghiệp chướng bâng quơ của một kiếp đời nào đó trong quá khứ, hay là sợ hăi cái trầm luân của những kiếp đời nào đó trong tương lai. Đấng Tạo hóa chỉ cho nhân loại có một kiếp để sống. Một kiếp để nhận biết Ngài, để học lấy sự yêu thương, và để được giải thoát.

Ôi cái giá cứu rỗi thật là nhẹ nhàng, và con đường cứu rỗi thật là ngắn ngủi. Chỉ giây phút này thôi, nếu bạn thấy ḷng ḿnh cảm động, xin bạn hăy cúi đầu nhắm mắt cầu nguyện cùng Chúa Giê-su, tin nhận Ngài là Đấng Cứu Rỗi, giao phó linh hồn và cuộc đời bạn trong bàn tay nhân từ và đầy quyền năng của Ngài. Bạn sẽ thấy Chúa Giê-su cận kề bên để nâng đỡ bạn lên, lau nước mắt cho bạn, và nhận bạn làm con cái của Ngài.

Trích dẫn trong đặc san Suối Thiêng: Ấn Bản Chúa Yêu Thương






Thượng Đế Toàn Năng Đấng Yêu Thương

(copyright by Peace & Happiness Ministry)







T́nh yêu của Thượng Đế Toàn Năng được bày tỏ qua thiên nhiên và Thánh Kinh. Thượng Đế, Cha Trời của chúng ta là nguồn cội của sự sống, sự thông sáng và niềm hạnh phúc. Hăy nh́n những nét diệu kỳ và tuyệt mỹ của thiên nhiên. Hăy suy gẫm những cung ứng của chúng cho nhu cầu và hạnh phúc chẳng riêng của loài người mà c̣n cho mọi loài sinh vật. Ánh thái dương cùng những giọt nước mưa như đem lại niềm vui và tươi mát cho tâm hồn cùng cảnh vật. Núi đồi chập chùng, biển cả mênh mông, đồng cỏ xanh tươi như đều thầm nhắn nhủ với ta về t́nh yêu của Đấng Tạo Hóa. Chính Thượng Đế Toàn Năng là Đấng cung cấp cho tất cả nhu cầu hằng ngày của mọi loài thọ tạo.

Những lời tuyệt đẹp trong sách Thi Thiên của Thánh Kinh đă diễn tả như sau:“Con mắt muôn vật đều ngửa trông Chúa,Chúa ban cho chúng đồ ăn tùy theo th́.Chúa sè tay ra, làm cho thỏa nguyện mọi loài sống.”(Thi Thiên 145:15,16) Thượng Đế Toàn Năng đă tạo dựng nên loài người trong sự toàn mỹ và hạnh phúc. Thế giới xinh đẹp không hề có vết tích của tàn phá hay bóng của rủa sả khi vừa ra khỏi bàn tay của Đấng Tạo Hóa. Chính v́ vi phạm luật pháp của Thượng Đế Toàn Năng, tức luật pháp yêu thương, mà đau khổ và chết chóc đă đến thế gian. Tuy nhiên, giữa những khốn khổ do hậu quả của tội lỗi gây ra, t́nh yêu của Thượng Đế Toàn Năng vẫn được bày tỏ cho chúng ta.

Thánh Kinh có chép rằng Thượng Đế Toàn Năng rủa sả đất v́ loài người (Sáng Thế Kư 3:17). Gai gốc và cỏ dại giống như những gian lao thử thách khiến cho đời người đầy nhọc nhằn và lo âu, nhưng cũng đem lại những ích lợi cho đời sống của con người. Chúng là một phần trong chương tŕnh huấn luyện cần thiết mà Thượng Đế Toàn năng dùng để nâng đỡ loài người ra khỏi cảnh đồi trụy và thấp hèn bởi tội lỗi gây nên. Thế giới tuy đă rơi vào tội lỗi, nhưng đời sống không phải chỉ toàn là thống khổ đau thương. Chính trong thiên nhiên cũng đem lại niềm an ủi, hy vọng và b́nh tịnh cho tâm hồn. Những đóa hoa đẹp lại mọc lên giữa vùng cỏ dại, và những đoá hoa hồng xinh tươi lại vươn lên giữa rừng gai nhọn.


Câu “Thượng Đế Toàn Năng là t́nh yêu” đă được viết lên trên mỗi nụ hoa và mỗi ngọn cỏ xanh ngát. Bầy chim yêu kiều làm vang dội không gian với những điệu ca thánh thót. Những đóa hoa mảnh mai tỏa hương thơm ngát từng không; rừng cây với cành lá xum xuê, tất cả đều bày tỏ sự chăm ǵn tŕu mến của Thượng Đế Toàn Năng với ḷng ao ước bầy con của Ngài được hạnh phúc.
 Thánh Kinh là Lời của Thượng Đế Toàn Năng bày tỏ bổn tánh của Ngài. Chính Chúa đă tuyên bố về t́nh yêu và ḷng thương xót vô bờ bến của Ngài trong đó. Khi Môi-se khẩn cầu rằng: “Xin Ngài cho con xem sự vinh hiển của Ngài,” Chúa đáp rằng: “Ta sẽ làm cho các sự nhân từ Ta phát ra trước mặt con” (Xuất Êdíptô Kư 33:18,19).

Đây là sự vinh hiển của Ngài. Chúa đi ngang qua trước mặt Môi-se, hô rằng: “Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Thượng Đế Toàn Năng nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thật, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi” (Xuất Êdíptô Kư 34:6,7). Ngài “chậm giận, giàu ơn,” “v́ Ngài lấy sự nhân từ làm vui thích.” (Giôna 4:2; Michê 7:18).

Chúa đă kết chặt ḷng ta với ḷng Ngài bằng hằng hà sa số chứng cớ trong trời đất. Ngài đă tự bày tỏ chính Ngài cho chúng ta qua thiên nhiên và qua những mối liên hệ t́nh cảm sâu nhiệm êm ái nhất trần đời mà ḷng người có thể kinh nghiệm được.

Tuy vậy, những sự kiện ấy cũng không bày tỏ trọn vẹn t́nh yêu của Chúa. Dầu tất cả những bằng chứng đó đă được phô bày, nhưng kẻ thù của điều thiện đă làm vẩn đục tâm trí của loài người, đến nỗi họ nh́n lên Chúa với niềm sợ hăi. Họ nghĩ rằng Ngài là Đấng khắc nghiệt và không tha thứ. Sa-tan đă gieo trong ḷng người quan niệm rằng Thượng Đế Toàn Năng là Đấng chuyên môn ḍ xét soi bói, một quan ṭa không hề thương xót, một chủ nợ tàn nhẫn, tính từng đồng.

Sa-tan phác họa một Đấng Tạo Hoá chỉ với cặp mắt chuyên ḍ t́m những lỗi lầm của loài người để h́nh phạt họ. Chính v́ để phá tan tư tưởng sai lầm nầy, và muốn bày tỏ cho thế gian biết t́nh yêu vô lường cuủa Thượng Đế Toàn Năng, mà Đức Chúa Giê-su đă giáng lâm để sống giữa loài người.
 

Con của Thượng Đế Toàn Năng đă giáng lâm để bày tỏ Đức Chúa Cha: “Chẳng hề ai thấy Thượng Đế Toàn Năng, Chỉ Con Một ở trong ḷng Cha, là Đấng đă giải bày Cha cho chúng ta biết.” (Giăng 1:18). “Ngoài Con và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng, th́ cũng không ai biết Cha.” (Mathiơ 11:27). Khi một môn đồ là Phi-líp hỏi: “Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng con,” th́ Đức Chúa Giê-su đáp: “Hỡi Phi-líp, Ta ở cùng các con đă lâu thay, mà con chưa biết Ta! Ai đă thấy Ta, tức là thấy Cha. Sao con lại nói rằng: ‘Xin chỉ Cha cho chúng con’?” (Giăng 14:8,9). 

Đức Chúa Giê-su giải bày chức vụ của Ngài ở thế gian như thế nầy: “Ngài đă xức dầu cho Ta đặng truyền tin lành cho kẻ nghèo; Ngài đă sai Ta để rao cho kẻ bị cầm được tha; Kẻ mù được sáng; Kẻ hà hiếp được tự do; Và để đồn ra năm lành của Chúa.” (Luca 4:18,19).



Đây là công việc của Chúa Giê-su. Ngài đi khắp nơi làm điều thiện, chữa lành những kẻ bị Sa-tan áp bức. Lúc bấy giờ có nhiều nơi, hầu như cả làng không c̣n nghe một tiếng kêu la rên siết bởi bịnh tật, v́ Chúa đă đi qua và chữa lành mọi tật bịnh cho họ rồi. Việc làm của Ngài là bằng cớ của thiên chức Ngài. T́nh yêu thương, sự nhân từ, và ḷng thương xót được bày tỏ qua mỗi hành động của Ngài.

Ḷng Chúa chứa chan mối cảm thông ưu ái đối với con cái loài người. Ngài mang lấy h́nh hài của loài người cốt để hiểu thấu mọi nhu cầu của con người. Những kẻ nghèo khó đơn sơ nhất không hề cảm thấy sợ hăi mặc cảm khi đến gần Ngài. Ngay cả trẻ thơ cũng được thu hút đến với Chúa. Chúng thích leo ngồi lên gối mà nh́n vào nét mặt trầm tư chan ḥa t́nh yêu của Ngài. Đức Chúa Giê-su không hề giấu bớt một chút lẽ thật nào cả, nhưng Ngài luôn nói ra lẽ thật với t́nh yêu thương.

Trong mọi sự giao tiếp với dân chúng, Ngài đều tỏ thái độ khéo léo, cảm thông và ḥa nhă. Chúa không hề thốt ra những lời bất nhẫn, không hề nói một lời nghiêm khắc không cần thiết, không hề làm tổn thương vô ích một linh hồn nhạy cảm nào. Chúa cũng không hề khiển trách sự yếu đuối của con người.



Ngài nói ra sự thật nhưng luôn luôn với t́nh yêu. Ngài lên án sự giả h́nh, ḷng không tin và tội lỗi. Nhưng mỗi lần thốt lên lời khiển trách, giọng Chúa luôn nghẹn ngào bởi nước mắt. Chúa khóc cho thành Giê-ru-sa-lem là thành Chúa yêu, v́ thành nầy đă từ chối tiếp nhận Ngài là đường đi, lẽ thật và sự sống. Họ đă chối bỏ Chúa là Đấng Cứu Thế, nhưng Ngài vẫn thương xót họ. Đời sống Chúa là một đời tận tụy hy sinh, vị tha và quan tâm đến người khác. Trước mắt Ngài mọi linh hồn đều quí báu.

Dù rằng có một địa vị thiêng liêng cao sang, Ngài vẫn hạ ḿnh tŕu mến với từng người trong đại gia đ́nh của Thượng Đế Toàn Năng. Trong mọi người, Chúa đều thấy đó là một linh hồn lạc mất mà Ngài có sứ mạng phải cứu vớt.
 Đó là bổn tánh của Đức Chúa Giê-su được bày tỏ qua đời sống Ngài. Đây cũng là bổn tánh của Thượng Đế Toàn Năng. Đó là ḍng suối nhân từ tuôn tràn từ ḷng Thượng Đế Toàn Năng, qua Đấng Cứu Thế, chảy tràn đến con cái của nhân loại.

Đức Chúa Giê-su, tức Chúa Cứu Thế dịu dàng và thương xót, là Thượng Đế Toàn Năng tỏ ra trong xác phàm. (I Timôthê 3:16)
 Chính v́ để cứu chuộc chúng ta mà Đức Chúa Giê-su đă giáng lâm để sống, để chịu thương khó và chịu chết. Ngài đă trở nên một người với danh hiệu “Người của khổ đau” để chúng ta được hưởng niềm vui đời đời. Thượng Đế đành ḷng để cho Con yêu dấu của Ngài, là Đấng đầy ơn và lẽ thật, ĺa chốn vinh hiển cao sang, đến thế gian bị tàn úa v́ tội lỗi, bị âm u bởi bóng sự chết và rủa sả. Ngài đành để Con Ngài ĺa bỏ chốn yêu thương tràn chảy từ ḷng Ngài, ĺa sự tôn kính cuủa thiên sứ, để chịu mọi nhục nhă, sỉ vả, chửi mắng, thù hằn và sự chết. “Bởi sự sửa phạt Người chịu chúng ta được b́nh an, bởi lằn roi Người chúng ta được lành bịnh.” (Êsai 53:5).


Hăy nh́n xem Ngài lúc ở trong đồng vắng, trong vườn Ghết-sê-ma-nê, trên thập tự giá! Ḱa, Con thánh khiết cuủa Thượng Đế Toàn Năng đă mang lấy gánh nặng tội lỗi của nhân loại. Đấng vốn là một với Thượng Đế Toàn Năng, đă cảm nhận sự ngăn cách ghê gớm giữa Thượng Đế và loài người do tội lỗi gây ra. Điều nầy đă làm cho Chúa thốt lên những lời đau thương:

“Đức Chúa Trời của Con ôi! Đức Chúa Trời của Con ôi! Sao Ngài ĺa bỏ Con?” (Mathiơ 27:46). Chính gánh nặng tội lỗi, cùng cảm giác kinh khiếp bị nó đè nặng, và sự phân cách giữa tâm linh với Đức Chúa Cha đă làm cơi ḷng Đức Chúa Con tan nát.

Nhưng sự hy sinh to lớn nầy không phải để gợi ḷng thương của Thượng Đế Toàn Năng cho nhân loại, cũng không phải để thúc đẩy Ngài cứu vớt thế gian. Không! Không! “V́ Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đă ban Con Một cuủa Ngài.” (Giăng 3:16).



Đức Chúa Cha yêu chúng ta không phải v́ của lễ chuộc tội trong Đức Chúa Con, nhưng v́ yêu chúng ta mà Ngài sắm sẵn một của lễ chuộc tội đó. Đấng Cứu Thế là phương tiện mà nhờ đó Đức Chúa Trời tuôn đổ t́nh yêu vô tận của Ngài cho thế gian.

“Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian ḥa lại với Ngài.” (II Côrinhtô 5:19). Đức Chúa Cha đồng chịu đau đớn với Đức Chúa Con. Trong cơn thống khổ nơi vườn Ghết-sê-ma-nê, lúc chịu chết trên cây thập tự, chính ḷng bác ái vô hạn đă trả giá cho sự cứu chuộc chúng ta.
 

Đức Chúa Giê-su phán rằng: “Nầy, tại sao Cha yêu Ta? Ấy v́ Ta phó sự sống ḿnh, để được lấy lại.” (Giăng 10:17). Điều nầy có nghĩa là “Cha rất rất yêu thương các con, cho nên khi Ta phó mạng sống ḿnh để cứu chuộc các con th́ Cha lại càng yêu Ta hơn. Ta trở thành Đấng Chết Thế và Đấng Bảo Đảm cho các con khi Ta hy sinh sự sống của ḿnh, khi ta mang lấy bản án và tội lỗi của các con, Ta càng được Cha yêu thắm thiết hơn; v́ bởi sự hy sinh của chính Ta,

Thượng Đế Toàn Năng vừa giữ được tiêu chuẩn công b́nh của ḿnh, và vừa là Đấng xưng công b́nh cho những người tin nhận Đức Chúa Giê-su.”
 Ngoài Con của Thượng Đế không ai có thể hoàn thành nổi việc cứu chuộc chúng ta, v́ chỉ một ḿnh Đấng ở trong ḷng Cha mới có thể giải bày Ngài ra. Chỉ một ḿnh Đấng thấu triệt chiều cao và chiều sâu của t́nh yêu Thượng Đế Toàn Năng mới có thể diễn tả tỏ tường t́nh yêu đó được. Chỉ có ḷng hy sinh vô tận của Đức Chúa Giê-su cho con người tội lỗi mới bày tỏ nổi t́nh yêu cuủa Đức Chúa Cha đối với nhân loại đang hư mất nầy.


“Thượng Đế Toàn Năng yêu thương thế gian đến nỗi đă ban Con Một của Ngài!” Ngài ban Con Ngài không phải chỉ để sống giữa loài người, gánh thay cho tội lỗi của họ và chết thế cho họ thôi đâu, nhưng cũng để tự đặt chính ḿnh Ngài vào mọi sở thích và nhu cầu cuủa nhân loại. Đấng vốn hiệp một với Đức Chúa Trời đă tự liên kết với nhân loại bằng sợi dây không bao giờ bị cắt đứt được. Ngài “không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em.” (Hêbơrơ 2:11).

Đức Chúa Giê-su là Sinh lễ, là Luật sư bào chữa, là người Anh của chúng ta, mang lấy h́nh hài con người mà đứng trước ngôi Đức Chúa Cha, đời đời hiệp một với ḍng giống loài người mà Ngài đă cứu chuộc, Ngài là Con Người (Con Trai của Loài Người) vậy. Ngài làm mọi việc ấy cốt để nâng loài người lên khỏi địa vị suy đồi hư mất v́ tội lỗi, hầu cho loài người phản chiếu được t́nh yêu của Đức Chúa Trời và chung hưởng sự vui mừng thánh khiết.

Cái giá đă trả để cứu chuộc chúng ta, tức sự hy sinh vô tận mà Cha Trời đă ban Con Ngài giáng phàm để chết cho chúng ta, phải cho chúng ta một ư niệm về địa vị cao cả mà chúng ta sẽ được trở thành qua Đấng Christ. Khi sứ đồ Giăng được soi dẫn để ngắm xem chiều cao, chiều sâu, chiều rộng của t́nh yêu cuủa Đức Chúa Cha đối với nhân loại hư mất, sứ đồ Giăng thấy ḷng đầy sự sùng kính và chúc tôn, không thể t́m được ngôn ngữ nào đủ nghĩa để diễn tả sự cao cả và sự tŕu mến của t́nh yêu nầy, ông đành kêu gọi nhân loại hăy nh́n lên: “Hăy xem Đức Chúa Cha đă tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời.” (I Giăng 3:1).


Cao quí thay, con người được ban cho điạ vị cao cả nầy. V́ phạm pháp, loài người đă trở nên tôi mọi của Sa-tan. Nhờ đức tin trong của lễ chuộc tội của Đấng Christ mà con cháu A-đam được trở thành con cái của Thượng Đế Toàn Năng. Mang h́nh thể của loài người, tức là Đức Chúa Giê-su nâng cao điạ vị của con người. Những con người phạm tội, nhờ thông công với Đấng Christ, được xứng đáng để mang danh hiệu “con cái Đức Chúa Trời.” Thật là một t́nh yêu vô đối! Con cái của Vua Trời! Một lời hứa quí báu thay!

Thật là một đề tài sâu nhiệm để suy gẫm!
 Không có ǵ có thể sánh được với t́nh yêu của Thượng Đế Toàn Năng dành cho thế gian không hề yêu mến Ngài.

Ư tưởng nầy tạo một nguồn năng lực trong tâm hồn của chúng ta, khiến chúng ta phải suy phục ư muốn thánh khiết của Thượng Đế Toàn Năng. Càng nghiên cứu về thần tánh của Thượng Đế Toàn Năng qua ánh sáng của thập tự giá, chúng ta càng nhận thấy ḷng thương xót, tŕu mến, và khoan dung ḥa lẫn với sự công b́nh chánh trực của Ngài, và chúng ta càng thấy rơ ràng vô số bằng cớ của t́nh yêu vô biên, dịu dàng vượt quá t́nh yêu của một người mẹ dành cho đứa con hoang đàng của ḿnh.


Copyright  © by Peace & Happiness Ministry, All rights reserved.
ABHP giu ban quyen tat ca moi tai lieu trong mang nay.